Thứ Năm, 12 tháng 6, 2014

Ung thư gan - Những dấu hiệu của ung thư gan

Ung thư gan - Những dấu hiệu của ung thư gan
1.      Dấu hiệu của bệnh ung thư gan
Ung thư gan nguyên phát xảy ra khi các tế bào ung thư (ác tính) bắt đầu lớn lên ở mô của gan. Tuy nhiên, ung thư gan thứ phát (loại ung thư xảy ra khi khối u ở những phần khác của cơ thể di căn tới gan) hay gặp hơn nhiều so với ung thư gan nguyên phát.

Vì ung thư gan hiếm khi được phát hiện sớm nên tiên lượng bệnh thường xấu. Tuy vậy, ngay trong những trường hợp tiến triển, việc điều trị có thể giúp giảm nhẹ các triệu chứng và cải thiện chất lượng sống. Ngoài ra, các phương pháp điều trị chuẩn như phẫu thuật, hoá trị liệu và tia xạ, các liệu pháp mới và ít xâm hại có thể là lựa chọn cho một số người.
Nhưng thông tin khích lệ nhất về ung thư gan là có thể giảm nhiều nguy cơ bị ung thư bằng cách tiêm vaccin phòng chống nhiễm virút viêm gan B (HBV). Những thay đổi về lối sống có thể giúp phòng ngừa các nguyên nhân chính khác gây ung thư gan, như viêm gan C và xơ gan.
2.     Dấu hiệu và triệu chứng
Hầu hết người bệnh không có các dấu hiệu và triệu chứng trong giai đoạn đầu của ung thư gan, điều đó có nghĩa là bệnh có thể không được phát hiện cho tới khi bệnh khá tiến triển. Khi xuất hiện các triệu chứng, chúng có thể bao gồm một số hoặc tất cả những triệu chứng dưới đây:
- Giảm ngon miệng và sút cân
- Đau bụng, đặc biệt ở vùng phía trên bên phải của bụng, có thể lan rộng ra lưng và vai
Buồn nôn và nôn
- Yếu và mệt mỏi
- Gan to lên
- Bụng to (cổ chướng)
- Mắt và da vàng do hiện tượng tích tụ bilirubin – sản phẩm còn lại của quá trình phá huỷ hồng cầu.
Thông thường, gan xử lý bilirubin để có thể bài tiết nó ra khỏi cơ thể. Nhưng bệnh gan có thể khiến chất này tích tụ trong máu, khiến da và mắt bị vàng và nước tiểu màu nâu sậm.
3.     Các yếu tố nguy cơ
Ung thư gan có thể xảy ra ở tất cả các độ tuổi và chủng tộc, nhưng một số yếu tố có thể làm tăng nguy cơ bị bệnh, bao gồm:
Giới tính: Nam giới dễ bị ung thư gan gấp 2-3 lần so với nữ giới.
Chủng tộc: Người Mỹ gốc Á có tỷ lệ bị ung thư gan cao nhất ở Mỹ. Người Mỹ da đen và gốc Tây Ban Nha, cũng có tỷ lệ mắc bệnh này cao hơn so với người da trắng.
Nhiễm HBV hoặc virút viêm gan C (HCV) mạn tính. Nhiễm HBV hoặc HCV là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất gây ung thư gan. Trên toàn thế giới, nhiễm HBV gây ra 80% số trường hợp ung thư biểu mô tế bào gan.
Xơ gan: Dạng bệnh tiến triển và không thể hồi phục này khiến hình thành mô sẹo ở gan và làm tăng khả năng bị ung thư gan.
Tiếp xúc với aflatoxin: Với người sống ở châu Phi và nhiều vùng của châu Á, ăn thực phẩm nhiễm aflatoxin làm tăng nguy cơ bị ung thư gan.
Uống quá nhiều rượu: Uống quá nhiều rượu có thể gây tổn thương gan không hồi phục và làm tăng nguy cơ bị ung thư gan.
Hút thuốc: Hút bất cứ loại thuốc lá nào đều dễ bị ung thư gan.
Tiếp xúc với vinyl chlorid, thorium dioxid (Thorotrast) và arsenic: Tiếp xúc với bất cứ chất hoá học nào trong số những chất này có thể góp phần gây ung thư gan.
4.     Sàng lọc và chẩn đoán
Nếu bị bất cứ triệu chứng nào của ung thư gan, như sút cân không rõ nguyên nhân, đau, bụng chướng hoặc vàng da, hãy đi khám bệnh càng sớm càng tốt. Bác sĩ sẽ hỏi về bệnh sử và khám thực thể. Bác sĩ cũng có thể yêu cầu làm một hoặc một vài xét nghiệm dưới đây:
Siêu âm.
- Chụp cắt lớp vi tính (CT).
- Chụp cộng hưởng từ (MRI).
- Chụp quét gan.
- Sinh thiết gan.

- Các xét nghiệm máu.

Thứ Tư, 11 tháng 6, 2014

Cảnh giác ung thư dạ dày khi bị rối loạn tiêu hóa

Cảnh giác ung thư dạ dày khi bị rối loạn tiêu hóa
Hơn 75% bệnh nhân ung thư dạ dày ở Việt Nam đến khám ở giai đoạn muộn. Kết quả là tỷ lệ tử vong do bệnh này rất cao.      
                   
1.     Dấu hiệu của ung thư dạ dày giai đoạn đầu :
Ung thư dạ dày là dạng ung thư nguy hiểm và phổ biến trên thế giới, đứng hàng thứ 3 trong 10 loại ung thư phổ biến tại Việt Nam. Ước tính hàng năm Việt Nam có 15.000 ca được chẩn đoán và có khoảng 11.000 ca tử vong.
Ung thư dạ dày phát hiện giai đoạn sớm chỉ cần cắt "hớt" niêm mạc dạ dày, không phải cắt bỏ dạ dày và cơ hội khỏi bệnh lên đến 99%. Tỷ lệ sống còn sau 5 năm là lớn hơn 90%. Trong khi đó tỷ lệ này ở giai đoạn muộn chỉ là 5%.
Nội soi dạ dày có thể giúp chẩn đoán ung thư dạ dày ngay cả trong giai đoạn sớm.
2.     Triệu chứng của ung thư dạ dày
Triệu chứng của ung thư dạ dày thường khá mơ hồ, không đặc hiệu và thường gây nhầm lẫn với nhiều bệnh lý khác, đặc biệt là trong giai đoạn sớm của bệnh.
- Triệu chứng giai đoạn sớm: Ăn không tiêu, nóng rát vùng thượng vị, ăn không ngon miệng...
- Triệu chứng giai đoạn trung bình: Mệt mỏi, đầy bụng sau ăn.
- Triệu chứng giai đoạn muộn: Thường xuyên đau bụng, nôn và buồn nôn, đi kèm với rối loạn tiêu hóa, sút cân, nuốt nghẹn, đại tiện ra phân đen (do xuất huyết tiêu hóa)...
Ung thư dạ dày đa phần được phát hiện ở giai đoạn muộn
- Do triệu chứng giai đoạn sớm của ung thư dạ dày là mơ hồ, không đặc hiệu, gây tâm lý chủ quan của người bệnh.
- Rất ít người bệnh đi thăm khám định kỳ.
- Người bệnh lo ngại nội soi dạ dày trong khi đây là phương pháp chủ yếu chẩn đoán ngay cả trong giai đoạn sớm. Do triệu chứng có vẻ "không có gì" nên người bệnh có tâm lý muốn lướt qua nỗi "ám ảnh nội soi".
Việc ám ảnh nội soi dạ dày có thể nói là tâm lý chung của hầu hết mọi người. Thực ra thì về phương diện kỹ thuật là một thủ thuật an toàn và đơn giản. Các máy nội soi ngày càng "tí hon hóa" tạo sự dễ chịu trong khi soi. Hơn nữa bệnh nhân có thể lựa chọn nội soi qua đường mũi, một kỹ thuật mà máy soi chỉ bằng khoảng ¼ so với dây soi tiêu chuẩn và do đi bằng đường mũi nên bệnh nhân hoàn toàn có thể cười nói trong lúc nội soi. Ngoài ra nội soi dạ dày gây mê cũng là một lựa chọn rất tốt.
3. Có nhiều yếu tố nguy cơ gây bệnh ung thư dạ dày
- Nhiễm HP (Helicobacter Pylori): Nhiễm trùng do vi khuẩn mãn tính với HP là yếu tố nguy cơ mạnh nhất đối với ung thư dạ dày. HP nhiễm trùng có liên quan với viêm dạ dày teo mãn tính. Bệnh nhân có tiền sử viêm dạ dày kéo dài có nguy cơ phát triển ung thư dạ dày tăng gấp 6 lần.
- Chế độ ăn uống: Một chế độ ăn giàu rau muối, cá muối, muối, và các loại thịt hun khói tương quan với tỷ lệ gia tăng của bệnh ung thư dạ dày. Ngược lại chế độ ăn bao gồm trái cây và rau quả giàu vitamin C có thể có một tác dụng bảo vệ dạ dày.
- Hút thuốc có liên quan với tỷ lệ tăng của bệnh ung thư dạ dày, phụ thuộc vào liều lượng, số lượng điếu thuốc và thời gian hút thuốc. Ngừng hút thuốc lá làm giảm nguy cơ ung thư dạ dày.
- Đã phẫu thuật: Phẫu thuật dạ dày làm thay đổi độ pH bình thường của bộ phận này, có thể dẫn đến chuyển sản niêm mạc dạ dày, phát triển thành ung thư.
- Yếu tố di truyền: Khoảng 10% trường hợp ung thư dạ dày có nguồn gốc gia đình.
- Thiếu máu ác tính: Thiếu máu ác tính liên quan đến viêm dạ dày teo tiến triển và sự thiếu hụt yếu tố nội tại là một yếu tố nguy cơ ung thư dạ dày.
- Các virus Epstein-Barr có thể được liên kết với một hình thức (<1%) bất thường của ung thư dạ dày.
- Bệnh béo phì làm tăng nguy cơ ung thư vùng tâm vị dạ dày.
- Phơi nhiễm phóng xạ: Người sống sót sau vụ nổ bom nguyên tử có tỷ lệ tăng bệnh ung thư dạ dày. Nhóm người khác tiếp xúc với bức xạ cũng có thể có gia tăng tỷ lệ bệnh.
- Việc sử dụng thuốc bisphosphonates dạng uống có liên quan với tăng nguy cơ ung thư thực quản hoặc dạ dày.
4. Phát hiện ung thư dạ dày giai đoạn sớm
Duy trì đi khám sức khỏe định kỳ, đặc biệt ở những người trên 40 tuổi mặc dù có thể không có triệu chứng bệnh tật. Cần cảnh giác khi có những triệu chứng tiêu hóa dù mơ hồ, nội soi định kỳ mỗi 2 năm.
Phòng ngừa ung thư dạ dày
Có thể phòng ngừa bằng cách hạn chế đến mức thấp nhất các yếu tố nguy cơ:
- Điều trị nhiễm trùng do Helicobacter Pylory.
- Không hút thuốc lá.
- Tránh ăn các thức ăn nhiều muối, nhiều gia vị hoặc chứa nhiều chất hóa học như nitrat (có thể biến thành nitrosamin là chất sinh ung thư).
- Dùng nhiều thức ăn như rau cải, cam chanh, nhiều vitamin C... Những chất này có tác dụng bảo vệ không gây ung thư dạ dày và một số ung thư khác.
Cuối cùng, cùng lúc với những biện pháp đã kể trên cần thiết phải khám định kỳ để phát hiện tổn thương nếu có. Đây cũng có thể coi là một biện pháp phòng ngừa hữu hiệu "tình trạng muộn" bi đát của ung thư dạ dày.
Thạc sĩ, bác sĩ Trần Quốc Vĩnh

Phòng khám Đa khoa Quốc tế Yersin (TP HCM)

Thứ Ba, 10 tháng 6, 2014

Những điều cần biết về ung thư tuyến tụy

Những điều cần biết về ung thư tuyến tụy
Ung thư tuyến tụy thường lây lan nhanh và hiếm khi được phát hiện ở giai đoạn đầu của nó, là một lý do chính tại sao nó là một nguyên nhân tử vong hàng đầu ung thư.

1.      Định nghĩa
Ung thư tuyến tụy bắt đầu trong các mô của tuyến tụy - một cơ quan ở bụng nằm theo chiều ngang phía sau phần dưới của dạ dày. Tuyến tụy tiết ra các enzyme tiêu hóa và kích thích tố giúp điều tiết sự trao đổi chất của đường.
Ung thư tuyến tụy thường có tiên lượng xấu, ngay cả khi chẩn đoán sớm. Ung thư tuyến tụy thường lây lan nhanh và hiếm khi được phát hiện ở giai đoạn đầu của nó, là một lý do chính tại sao nó là một nguyên nhân tử vong hàng đầu ung thư. Các dấu hiệu và triệu chứng có thể không xuất hiện cho đến khi bệnh ung thư tuyến tụy là khá muộn và phẫu thuật cắt bỏ là không thể.
2.      Các triệu chứng
Các dấu hiệu và triệu chứng của ung thư tuyến tụy thường không xảy ra cho đến khi bệnh được nâng cao. Khi các dấu hiệu và triệu chứng xuất hiện, có thể bao gồm:
Đau bụng trên có thể lan tới lưng.
Vàng da và lòng trắng mắt.
Chán ăn.
Trọng lượng mất mát.
Trầm cảm.
Các cục máu đông.
Đến gặp bác sĩ khi
Khám bác sĩ nếu có trải nghiệm giảm cân không giải thích được, đau bụng, vàng da, hoặc các dấu hiệu và triệu chứng đó làm phiền. Nhiều bệnh và các điều kiện khác với ung thư có thể gây ra dấu hiệu tương tự và các triệu chứng, do đó, bác sĩ có thể kiểm tra các điều kiện này cũng như đối với ung thư tuyến tụy.
3.      Nguyên nhân
Không phải rõ ràng những gì gây ra ung thư tuyến tụy.
Tìm hiểu về tuyến tụy
Tuyến tụy là dài khoảng 6 inch (15 cm) và trông giống như một quả lê. Tụy tạng là một phần quan trọng của hệ thống tiêu hóa. Nó tiết ra kích thích tố, bao gồm insulin, giúp cho quá trình chuyển hóa đường cơ thể. Và nó tạo ra dịch tiêu hóa để giúp cơ thể tiêu hóa thức ăn.
4.      Các loại ung thư tuyến tụy
Các loại tế bào tham gia vào ung thư tuyến tụy giúp xác định điều trị tốt nhất. Các loại ung thư tuyến tụy bao gồm:
Ung thư hình thành trong các ống tuyến tụy (adenocarcinoma). Tế bào đường ống dẫn của tuyến tụy giúp sản xuất dịch tiêu hóa. Đa số các bệnh ung thư tuyến tụy là carcinoma tuyến. Đôi khi những khối u ung thư được gọi là exocrine.
Ung thư hình thành trong sản xuất các tế bào nội tiết tố. Ung thư hình thành trong các tế bào sản xuất hormone của tuyến tụy được gọi là nội tiết ung thư. Nội tiết ung thư tuyến tụy thì rất hiếm.
5.      Yếu tố nguy cơ
Yếu tố có thể làm tăng nguy cơ ung thư tuyến tụy bao gồm:
Lớn tuổi, đặc biệt là trên 60 tuổi.
Chủng tộc da đen.
Thừa cân hoặc béo phì
Viêm mãn tính của tuyến tụy (viêm tụy).
Bệnh tiểu đường.
Lịch sử gia đình của hội chứng di truyền có thể làm tăng nguy cơ ung thư, trong đó có một đột biến gen BRCA2, hội chứng Peutz - Jeghers, hội chứng Lynch và u ác tính không điển hình nốt ruồi lành tính gia đình (FAMMM)
Cá nhân hay tiền sử gia đình mắc bệnh ung thư tuyến tụy.
Hút thuốc.
6.      Các biến chứng
Khi tiến triển ung thư tuyến tụy, nó có thể gây biến chứng như:
Vàng da.: Ung thư tụy từ các khối ung thư ống mật gan có thể gây vàng da. Dấu hiệu bao gồm da vàng và mắt, nước tiểu có màu tối và màu phân nhạt.
Bác sĩ có thể đề nghị một ống nhựa hoặc kim loại (stent) được đặt bên trong ống mật để giữ nó mở. Trong một số trường hợp bỏ qua có thể cần thiết để tạo ra một cách mới cho mật chảy từ gan đến ruột.
Đau: Một khối u đang phát triển có thể nhấn vào dây thần kinh ở bụng, gây ra đau có thể trở thành nghiêm trọng. Thuốc giảm đau có thể giúp cảm thấy thoải mái hơn. Xạ trị có thể giúp khối u ngừng tăng trưởng tạm thời để cung cấp một số cứu trợ.
Trong trường hợp nặng, bác sĩ có thể đề nghị một thủ tục để đưa cồn vào các dây thần kinh kiểm soát đau ở bụng (celiac đám rối thần kinh). Thủ tục này các dây thần kinh ngừng gửi tín hiệu đau lên não.
Tắc nghẽn đường ruột. Ung thư tụy phát triển thành hoặc ép vào thành tá tràng, có thể chặn dòng chảy của thức ăn tiêu hóa từ dạ dày - ruột non.
Bác sĩ có thể khuyên nên đặt một ống (stent) được đặt trong ruột non để giữ nó mở. Hoặc phẫu thuật bỏ qua có thể là cần thiết để đính kèm dạ dày đến một điểm thấp hơn trong ruột không bị ung thư.
Trọng lượng mất. Một số yếu tố có thể gây ra giảm cân ở những người bị ung thư tuyến tụy. Buồn nôn và nôn gây ra bởi phương pháp điều trị ung thư hoặc khối u một cách nhấn vào dạ dày có thể làm cho nó khó khăn để ăn. Hoặc cơ thể có thể khó khăn chế biến các chất dinh dưỡng từ thức ăn đúng cách bởi vì tuyến tụy không làm cho tiêu hóa đủ.
Bổ sung enzyme tuyến tụy có thể được đề nghị để hỗ trợ tiêu hóa. Hãy cố gắng duy trì trọng lượng bằng cách thêm calo, nơi có thể và giờ ăn làm dễ chịu và thoải mái nhất có thể.
7.      Các giai đoạn của ung thư tuyến tụy
Sử dụng thông tin từ các xét nghiệm dàn dựng, bác sĩ chỉ định ung thư tuyến tụy. Các giai đoạn của ung thư tuyến tụy là:
Giai đoạn I. Ung thư là chỉ giới hạn ở tuyến tụy.
Giai đoạn II. Ung thư đã lan rộng ra khỏi các tuyến tụy đến các mô lân cận và các cơ quan và có thể đã lây lan đến các hạch bạch huyết.
Giai đoạn III. Ung thư đã lan rộng ra khỏi các tuyến tụy đến các mạch máu lớn trên tuyến tụy và có thể đã lây lan đến các hạch bạch huyết.
Giai đoạn IV. Ung thư đã lan vượt xa tụy, như gan, phổi và màng bao quanh các cơ quan bụng (phúc mạc).
8.      Phương pháp điều trị và thuốc
Điều trị ung thư tuyến tụy phụ thuộc vào các giai đoạn và vị trí của ung thư cũng như tuổi tác, sức khỏe tổng thể và sở thích cá nhân. Mục tiêu đầu tiên của điều trị ung thư tuyến tụy là để loại trừ ung thư khi có thể. Khi đó không phải là một lựa chọn, trọng tâm có thể về phòng chống ung thư tuyến tụy từ phát triển, gây hại nhiều. Khi ung thư tuyến tụy tiên tiến và phương pháp điều trị không có khả năng cung cấp lợi ích, bác sĩ có thể gợi ý những cách để làm giảm triệu chứng và làm cho thoải mái như có thể.
a.      Phẫu thuật
Phẫu thuật có thể là một lựa chọn nếu ung thư tuyến tụy là giới hạn trong tuyến tụy. Hoạt động được sử dụng ở những người bị ung thư tuyến tụy bao gồm:
Phẫu thuật khối u trong đầu tụy. Nếu ung thư tuyến tụy nằm trong đầu của tuyến tụy, có thể xem xét một hoạt động gọi là một thủ tục Whipple (pancreatoduodenectomy). Các thủ tục liên quan đến việc loại bỏ Whipple đầu của tuyến tụy, cũng như một phần của (tá tràng) ruột non, túi mật và một phần của ống mật. Một phần của dạ dày có thể được gỡ bỏ. Bác sĩ phẫu thuật nối lại các phần còn lại của dạ dày, tuyến tụy và ruột để cho phép tiêu hóa thức ăn.
Whipple phẫu thuật mang một nguy cơ nhiễm trùng và chảy máu. Sau khi phẫu thuật, một số người trải nghiệm buồn nôn và nôn có thể xảy ra nếu dạ dày có khó khăn đổ đầy. Mong đợi một sự hồi phục lâu dài sau khi thủ tục Whipple. Sẽ dành 10 ngày trở lên tại bệnh viện và sau đó hồi phục trong vài tuần ở nhà.
Phẫu thuật khối u trong đuôi tuyến tụy và cơ thể. Phẫu thuật để loại bỏ các đuôi của tụy tạng hoặc đuôi và một phần nhỏ của cơ thể được gọi là pancreatectomy. Bác sĩ phẫu thuật cũng có thể loại bỏ lá lách. Phẫu thuật mang một nguy cơ chảy máu và nhiễm trùng.
Nghiên cứu cho thấy phẫu thuật ung thư tuyến tụy có thể gây ra các biến chứng ít khi được thực hiện bởi bác sĩ phẫu thuật có kinh nghiệm. Đừng ngần ngại hỏi về kinh nghiệm của bác sĩ phẫu thuật với phẫu thuật ung thư tuyến tụy. Nếu có bất kỳ nghi ngờ, có được một ý kiến thứ hai.
b.      Xạ trị
Xạ trị sử dụng chùm tia năng lượng cao để tiêu diệt tế bào ung thư. Có thể nhận được phương pháp điều trị phóng xạ trước khi hoặc sau khi phẫu thuật ung thư, thường kết hợp với hóa trị. Hoặc, bác sĩ có thể khuyên nên kết hợp các phương pháp điều trị phóng xạ và hóa trị khi ung thư không thể được điều trị bằng phẫu thuật.
Xạ trị có thể đến từ một máy bên ngoài cơ thể (tia bức xạ bên ngoài), hoặc nó có thể được đặt bên trong cơ thể gần bệnh ung thư (brachytheraphy). Bức xạ trị liệu cũng có thể được sử dụng trong phẫu thuật (mổ bức xạ).
c.       Hóa trị
Hóa trị là sử dụng thuốc để giúp tiêu diệt tế bào ung thư. Hóa trị có thể được tiêm vào tĩnh mạch hoặc dùng bằng đường uống. Có thể nhận được chỉ có một loại thuốc hóa trị liệu, hoặc có thể nhận được một sự kết hợp của các loại thuốc hóa trị.
Hóa trị cũng có thể được kết hợp với liệu pháp bức xạ (chemoradiation). Chemoradiation thường được sử dụng để điều trị bệnh ung thư đã lan tràn ra ngoài tuyến tụy, nhưng chỉ cho các cơ quan gần đó và không đến các vùng xa của cơ thể. Sự kết hợp này cũng có thể được sử dụng sau khi phẫu thuật để giảm nguy cơ ung thư tuyến tụy có thể tái diễn.

Ở những người bị ung thư tuyến tụy cao cấp, hóa trị có thể được kết hợp với liệu pháp thuốc nhắm mục tiêu.

Thứ Hai, 9 tháng 6, 2014

Tìm hiểu về viêm loét dạ dày và ung thư thư dạ dày

Tìm hiểu về viêm loét dạ dày và ung thư thư dạ dày
1.     Ung thư dạ dày:
Ung thư dạ dày (bao tử) thường gặp, ở nam giới chỉ sau các ung thư gan và phổi, ở phụ nữ hàng thứ tư. Bệnh âm thầm nên biết trễ và trị khó. Ít ai ngờ bệnh dữ lại có thể phòng tránh được.
  


Dạ dày là cái túi rỗng, một khối nhỏ thường chẳng gây xáo trộn gì. Bệnh “câm nín” rất lâu, khi “lên tiếng” thì xấu rồi. Ban đầu mập mờ, chỉ có cảm giác ăn không tiêu. Bệnh nhiều mới gây ra cơn đau vùng bụng trên, khó tiêu dai dẳng và không thèm ăn. Trễ hơn có ói mửa, tiêu phân đen, sút cân mau lẹ.


Có người không tin bác sĩ nói có bệnh, để 6 tháng hoặc cả năm bệnh trổ rõ mới đi trị, uổng lắm! Chẳng thế, tính ra cứ mỗi 5 người bệnh thì có 4 người khi phát hiện, bệnh đã trở thành khó trị.

Người trên 40 tuổi ăn không tiêu dai dẳng, nên hỏi bác sĩ có cần soi dạ dày không. Thầy thuốc đưa ống soi mềm qua họng xuống đến dạ dày, thấy gì nghi ngờ thì chụp hình và làm sinh thiết. Ống soi mềm mại, thao tác của bác sĩ nhẹ nhàng. Vậy nên đừng vì sợ nội soi màmất đi cơ hội phát hiện sớm.

Chụp hình dạ dày cũng thông dụng. Uống một chất gọi là barýt rồi chụp nhiều phim X-quang lấy hình của dạ dày và tá tràng. Bác sĩ đọc phim có thể thấy được các điều bất thường.

Việc lựa chọn điều trị tùy thuộc bệnh ở giai đoạn nào, tổng trạng và ý muốn của người bệnh. Bác sĩ chia ra hai nhóm mổ cắt được và không cắt được.

Nếu ung thư còn nhỏ, bác sĩ cắt dạ dày bán phần, nhằm lấy phần dạ dày mang ung thư và bảo đảm lằn mức an toàn mô lành, phần còn lại của dạ dày đem nối với ruột non để thức ăn vẫn lưu thông được.


Nếu cần thì nạo các hạch lymphô. Cắt toàn phần là lấy trọn dạ dày và có thể lấy thêm cơ quan ở gần (lá lách chẳng hạn) khi ung thư ăn lan quá nhiều hoặc nằm ở phần trên (tâm vị) của dạ dày.

Phải đem thực quản nối với ruột non. Xạ trị dùng chùm tia phóng xạ giết các tế bào ung thư. Xạ trị trước mổ làm xọp khối bướu để dễ mổ cắt đi. Xạ trị sau mổ nhằm tiêu diệt các tế bào ung thư còn sót.

Hóa trị dùng thuốc luân lưu khắp cơ thể giết các tế bào ung thư đã lan ra ngoài dạ dày, cũng dùng cho di căn xa hoặc làm bớt các triệu chứng thời kỳ trễ. Có thể kết hợp hóa và xạ trị. Với loại lymphôm dạ dày, hóa trị thường có hiệu quả.  Và trong số những trường hợp mổ được, có khoảng 40% trị tốt.


Nhiều người không ngờ ung thư sát thủ này lại do con vi khuẩn gọi là Helicobacter pylori ở trong dạ dày, liên thủ với chế độ ăn mặn và khói thuốc lá. Do đó, ung thư này khó trị nhưng lại có thể phòng tránh.
Thấy có triệu chứng như viêm loét dạ dày nên xin bác sĩ tư vấn soi dạ dày và xét nghiệm vi khuẩn H. pylori để có xử lý thích hợp. Nên ăn nhiều rau trái củ tươi. Tránh chế độ ăn mặn (cá khô mắm, mắm tôm, rau cải làm dưa, cà pháo, kim chi...). Tránh xa khói thuốc lá. Uống rượu ít thôi.
2.     Viêm loét dạ dày: Nhiều biến chứng khó lường
Viêm loét dạ dày ngày càng gia tăng nhanh và có xu hướng trẻ hóa ở nước ta. Bệnh tuy không đe dọa đến tính mạng nhưng ảnh hưởng lớn đến cuộc sống hàng ngày. Đặc biệt, nếu không được chữa trị kịp thời sẽ gây nhiều biến chứng nguy hiểm.
10 tuổi đã thủng dạ dày

Tại khoa Phẫu thuật trẻ em - BV Việt Đức, những năm gần đây số trẻ được phẫu thuật dạ dày ngày càng tăng, trung bình 5-7 ca/tháng. Như trường hợp bệnh nhi Nguyễn Thành N., 10 tuổi (ở Hưng Yên) được đưa vào cấp cứu trong tình trạng đau đột ngột, vật vã, nôn ra máu... Kết quả thăm khám khẳng định bé bị thủng dạ dày do viêm loét. Rất may N. được mổ cấp cứu kịp thời nên tránh nguy hiểm tới tính mạng
Đáng chú ý, nếu như đau dạ dày trước kia chỉ gặp ở người lớn thì ngày nay, số trẻ em mắc bệnh cũng chiếm tỷ lệ đáng kể do học tập căng thẳng, thức khuya, ăn uống không điều độ
Nguy hiểm hơn, đa phần trẻ viêm loét dạ dày nhập viện trong tình trạng muộn do viêm loét dạ dày ở trẻ em tiến triển rất nhanh. Bệnh nếu không được điều trị sẽ khiến trẻ bị suy dinh dưỡng, xuất huyết tiêu hóa, thủng dạ dày, đặc biệt là biến chứng gây hẹp môn vị.
Viêm loét dạ dày – nhiều biến chứng khó lường
Viêm loét dạ dày không chỉ ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống mà còn gây ra nhiều biến chứng như xuất huyết tiêu hóa, thủng dạ dày, hẹp môn vị.
Các biến chứng này nếu không được điều trị kịp thời có thể nguy hiểm đến tính mạng và không điều trị triệt để dễ dẫn đến ung thư dạ dày, một dạng ung thư thường gặp, chiếm vị trí hàng đầu trong các ung thư đường tiêu hóa.
Đau dạ dày rất dễ dẫn đến nhiều biến chứng khó lường, nguy hiểm nhất là ung thư dạ dày
Cắt cơn đau dạ dày không khó nhưng nếu chỉ dùng thuốc trị triệu chứng mà quên bảo vệ niêm mạc dạ dày, hạn chế bội nhiễm H.Pylori, thay đổi chế độ ăn uống sinh hoạt của người bệnh thì viêm loét dạ dày rất dễ tái phát. Vì vậy, đau dạ dày tuy không phải nan y nhưng rất khó để chữa khỏi.


Thứ Sáu, 6 tháng 6, 2014

Ung thư da – Những điều cần biết về bệnh ung thư da

Ung thư da – Những điều cần biết về bệnh ung thư da
Ung thư da
Ung thư da là một trong những ung thư thường gặp, dễ chẩn đoán, điều trị đạt kết quả tốt nếu như được phát hiện sớm.
Ung thư da là một trong những ung thư thường gặp, dễ chẩn đoán, điều trị đạt kết quả tốt nếu như được phát hiện sớm.

1.     Chức năng của da
Da bao phủ mặt ngoài của cơ thể, bảo vệ các thành phần bên trong chống lại các tác nhân có hại từ bên ngoài thâm nhập vào, ví dụ : ánh sách mặt trời. Các tế bào trên mặt da (tế bào sừng) luôn luôn bị cọ sát và được thay thế bằng các tế bào mới.
Các tế bào melanocytes sinh ra sắc tố tối màu (melanin), nhiệm vụ của sắc tố này là bảo vệ da khi tiếp xúc với ánh sáng mặt trời.
Ở người da trắng các tế bào melanocytes không sản xuất được nhiều sắc tố melanin như người da màu.
2.     Bệnh sinh
Hầu hết ung thư da phát sinh do bị ảnh hưởng kéo dài tác dụng tia cực tím của ánh nắng mặt trời. Các tia cực tím xuyên qua da và làm tổn thương các tế bào sống, lúc đầu làm cho da rám nắng, nếu như tiếp tục bị phơi dưới ánh nắng mặt trời quá mức, tia cực tím sẽ gây nguy hiểm cho da và làm cho bạn già trước tuổi.
Một số ung thư da được phát hiện từ các nguyên nhân khác như : tia bức xạ ion hóa, các sản phẩm của nhựa than đá, thạch tín ...
3.     Bệnh học
Ung thư biểu mô tế bào đáy : hay gặp ở những vùng da hở, tiếp xúc với ánh sáng mặt trời. Là loại ung thư dễ chữa nhất tỉ lệ khỏi bệnh gần 100%.
Ung thư biểu mô gai sừng hóa : hay phát triển từ sẹo bỏng, hoặc vết loét lâu ngày, là loại hay di căn hạch, có thể gây tỉ lệ tử vong cao, nếu không được phát hiện, chẩn đoán sớm và điều trị hợp lý.
Ung thư hắc tố : là loại thứ 3 của ung thư da, thường khởi đầu từ một nốt ruồi lành, tàn nhang hoặc một đám sắc tố bẩm sinh (bớt) nhưng cũng có thể phát triển ở chỗ da bình thường ... đây là loại ung thư của da, hay di căn tới các bộ phận khác của cơ thể.
Các loại ung thư xuất phát từ các tuyế dưới da như ung thư biểu mô tuyến mồ hôi hay tuyến bã.
4.     Yếu tố nguy cơ của ung thư da
Tất cả những người mà da của họ không thường xuyên được bảo vệ khi tiếp xúc với ánh nắng mặt trời.
Những người da trắng dễ có nguy cơ bị ung thư da hơn những người da mầu.
Những người làm việc ngoài trời như nông dân, thủy thủ, người làm đường
Những người bị bệnh khô da nhiễm sắc, thiếu khả năng phòng ngừa tác hại của tia tử ngoại, có tính chất di truyền có nguy cơ cao hoặc những người bị bạch biến do rối loạn chức năng sinh sản hắc tố.
Những người có vết sẹo bỏng cũ lâu ngày do xăng, vôi hoặc các sẹo do vật gây cháy khác. Những người có vết loét hoặc ổ viêm nhiễm lâu ngày.
5.     Các dấu hiệu và triệu chứng của ung thư da
Vết loét dai dẳng thỉnh thoảng lại chảy máu hoặc có thể khỏi trong từng thời kì.
Những thay đổi tại một vùng da bị sừng hóa do ảnh hưởng của ánh nắng mặt trời như chảy máu, loét, cục nhỏ ...
Loét hay nổi cục tại vùng da đã được tia xạ từ trước hoặc tại một vết sẹo hay một đường dò.
Một vết đốm đỏ nhạt mạn tính với sự xước trợt nhẹ.
Với ung thư hắc tố các dấu hiệu cần được chú ý:
Thay đổi về màu sắc : hầu hết các ung thư hắc tố có màu sắc không đồng đều với những sắc thái khác nhau của màu nâu, đen, đỏ, trắng, xanh. Những nốt ruồi đang chuyển màu là những tổn thương đặc biệt nghi ngờ.
Ở người trưởng thành : một nốt ruồi phát triển to nhanh. Trong vài ngày hoặc vài tuần.
Thay đổi về bề mặt của nốt ruồi : từ nhẵn trở nên gồ ghề, có vẩy, hoặc loét.
Thay đổi về ranh giới : Nốt ruồi lành có ranh giới rõ, thấy nghi ngờ khi xung quanh có hình răng cưa, vết khía hoặc phát triển không đều về một phía.
Các nốt ruồi có cảm giác ngứa : ngứa, chảy máu, hoặc chảy nước vàng.
Thay đổi về độ dày của tổn thương, không đồng đều ở mọi điểm, đặc biệt quan trọng là sự thay đổi về độ dày không đối xứng.
6.     Chẩn đoán ung thư da
Nếu có dấu hiệu nghi ngờ ung thư da xin mời bạn tới các cơ sở y tế để khám bệnh. Thầy thuốc sẽ khám kĩ càng tổn thương của bạn dưới ánh sáng tốt, có kính lúp càng tốt hơn. Nếu có nghi ngờ tùy từng trường hợp sẽ giải quyết cho phù hợp theo chẩn đoán.
7.     Điều trị ung thư da
Phẫu thuật cắt bỏ rộng tổn thương là phương châm quan trọng nhất, phụ thuộc vào kích thước của tổn thương và vị trí của nó trên cơ thể.
Với các thương tổn nghi ngờ nhỏ tốt nhất nên cắt bỏ rộng để điều trị và chẩn đoán xác định.
Các thương tổn rộng tùy theo từng hoàn cảnh cụ thể có biện pháp điều trị phù hợp.
Với các thương tổn của ung thư hắc tố hoặc nghi ngờ là hắc tố nên được giải quyết ở cơ sở chuyên khoa để điều trị triệt để. Không được tẩy bỏ nốt ruồi bằng các phương pháp không chính thống như : bằng hóa chất, hoặc đốt bằng các vật nóng như thuốc lá hoặc thanh sắt nung nóng ... điều đó sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng của bạn.
8.     Phòng bệnh ung thư da
Bạn bảo vệ da của mình như thế nào?
Mặc áo nhiều màu hoặc màu tối bằng các chất liệu tự nhiên, sẽ bảo vệ da bạn được tốt hơn là áo màu sáng bằng chất liệu nhân tạo.
Khi làm việc ngoài trời cần sử dụng nón, mũ hoặc màn che nắng, cần sử dụng mũ nón rộng vành để che được cả đầu, mặt, cổ ... hoặc tận dụng bóng râm của cây cối ...
Khi làm việc có tiếp xúc với hóa chất, phóng xạ cần phải có biện pháp bảo vệ, như đi găng, đi ủng, quần áo bảo hộ, kính, mặt nạ ...
Hạn chế làm việc ngoài trời nắng từ 10 giờ sáng tới 2 giờ chiều.
Thường xuyên vệ sinh da sạch sẽ, tránh và điều trị kịp thời các triệu chứng viêm nhiễm trên da.
Với con cái bạn bảo vệ da của chúng như thế nào?
Bạn có biết không? Da của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ rất nhạy cảm với ánh nắng mặt trời so với người lớn, da thường trở nên rám nắng sau vài phút tiếp xúc.
Khi da trẻ trở nên rám nắng thì khó đề phòng phát triển của ung thư da khi thành người lớn. Trong thực tế một đứa trẻ bị phơi nắng quá nhiều khi trưởng thành dễ bị ung thư da.
Vào buổi trưa (10 giờ sáng-14 giờ chiều) cố gắng giữ cho trẻ không tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời, nên chọn chỗ cho trẻ ở dưới bóng cây, nếu phải ra ngoài phải dùng các biện pháp bảo vệ như : ô, mũ, nón ...
Khi trẻ lớn, nên cho trẻ tiếp xúc với "ánh nắng an toàn" để trở thành một thói quen hàng ngày của chúng sau này.
Hãy tập cho chúng cách bảo vệ da như bạn đã làm theo chỉ dẫn.
Cần nhắc lại với các bạn rằng:
Bất kì một tổn thương nghi ngờ ở da bạn hoặc của người thân nên tới vàkhuyên người thân tới các cơ sở y tế để khám.
Mọi phát hiện và chẩn đoán sớm đều tốt cho bạn trong việc điều trị triệt để. Ung thư da có thể phòng ngừa được và dễ phát hiện sớm.

Đừng phung phí cuộc sống vì căn bệnh có thể chữa khỏi này.